Giỏ hàng

Ngải cứu vị thuốc quý cho quý bà

0₫

NGẢI CỨU 

Còn gọi là cây thuốc cứu, cây thuốc cao, ngải điệp.

Tên khoa học Artemisia vulgaris L. Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

Ta dùng lá có lẫn ít cành non-Folium Artemisiae-phơi hay sấy khô của cây Ngải cứu. Vị thuốc còn mang tên ngải diệp (lá ngải).

Ngải cứu là một vị thuốc thông dụng cả trong đông y và tây y.

  1. Mô tả cây

Ngải cứu là một loại cỏ sống lâu năm, cao 50 - 60cm, thân to có rãnh dọc. Lá mọc so le, rộng, không có cuống (nhưng lá phía dưới thường có cuống), xẻ thùy lông chim, màu lá ở hai mặt rất khác nhau: Mặt trên nhắn màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng tro do có rất nhiều lông nhỏ, trắng. Hoa mọc thành chùy kép gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu ( Hình 7).

  • Phân bố, thu hái và chế biến

Ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta, còn thấy mọc ở nhiều nước khác ở châu Á, cả châu Âu nữa. Ở nước ta một số gia đình trồng ngải cứu có tính chất quy mô nhỏ quanh nhà, Chưa thấy trồng quy mô lớn. | Thường hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với tết mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong dâm mát. Có khi hái về phơi khô tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung thường dùng làm mồi cứu.

Trong phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu, người ta có thể kích thích những huyệt hoặc bằng kim châm sâu vào da thịt, hoặc bằng cách đặt lên

Hình 7, Ngải cứu - Artemisia vulgaris

  1. Ngọn; 2, Cụm hoa; 3. Hoa

những huyệt một miếng gừng tươi mỏng có châm vài lỗ để tránh cho da thịt khỏi bị cháy bỏng nhưng hơi nóng vẫn ngấm tới da thịt rồi về một nắm ngải nhung bằng một môi thuốc lào đặt trên miếng gừng mà đốt; sức nóng kích thích huyệt (gọi là cứu). Sở dĩ người ta dùng lông ngải cứu vì nó có nhiều tinh dầu, cháy lâu không tắt.

  1. Thành phần hóa học

Hiện nay hoạt chất của ngải cứu chưa được xác định, mặc dầu ngải cứu được dùng cả trong đông y và tây y. Chỉ mới biết trong ngải cứu có tinh dầu, ít tanin. Thành phần chủ yếu của tinh dầu ngải cứu là xineol và g-thuyọn. Ngoài ra còn một ít adenin, cholin,

  1. Tác dụng dược lý

Ngoài công dụng điều kinh, ngải cứu còn được dùng làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa chất làm kích thích cho say.

đau bụng, nôn mửa, thuốc giun, sốt rét.   

Ngải nhung (lông của lá) dùng làm mồi ngải cứu như đã nói trên. nhiều quá có thể gây điên cuồng.

Nói chung tác dụng dược lý của ngải cứu ít Đơn thuốc có ngải cứu thấy tài liệu nghiên cứu mặc dù ngải cứu được 

Thuốc chữa kinh nguyệt kéo dài, máu ra chủ yếu làm thuốc điều kinh.nhiều, người mệt mỏi, đi đứng một yếu: Hàng tháng đến ngày bắt đầu hành kinh và cả những

E. Công dụng và liều dùng

ngày đang có kinh, uống sáng một lần, chiều Đông y coi ngải cứu là một vị thuốc có Lá ngải cứu hơi ôn, vị cay dùng làm thuốc đông khí huyết khô 10g, thêm 200ml nước, cô còn 100ml,

điều kinh, an thai, dùng chữa đau:

thêm ít đường cho dễ uống. bụng do hàn, kinh nguyệt không đều, thai động. Có thể cân luôn một lần 20g sắc với 400ml không yên, thổ huyết, máu cam.

nước, cô còn 200ml, chia làm 2 lần uống sáng Ngải cứu được dùng làm thuốc điều kinh: và chiều. Chỉ sau 1-2 ngày thấy kết quả. Một tuần lễ trước dự kỳ có kinh, uống mỗi ngày Đơn thuốc này còn có thể dùng chữa kinh | từ 6 đến 12g (tối đa 20g), sắc với nước hay hãm nguyệt kéo dài, đau bụng, máu ra đen và xấu. với nước sôi như hãm chè, chia làm 3 lần uống Những uống hàng tháng vào 7-10 ngày trước trong ngày. Có thể uống dưới dạng thuốc bột ngày dự kiến có kinh. (5-10g) hay dưới dạng thuốc cao đặc 1-4g. Thuốc an thai (chữa đang có thai, đau bụng,

Nếu có thai, thuốc không gây sẩy thai và chảy máu): Lá ngải cứu 16g, tía tô 16g, nước không có tác dụng kích thích đối với tử cung 600ml, sắc đặc còn 100ml. Thêm ít đường vào có thai.

cho dễ uống. Chia làm 3-4 lần uống trong ngày.

Hotline hỗ trợ 24/7: 0982957282
|
Số lượng

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫